Xuân 1992
Tôi rời bỏ Quảng Trị trong màn lửa đạn rực
trời của mùa hè 1972. Hơn 20 năm sau, 1992, lòng tôi xót xa vô ngần khi tìm về lối cũ trong một
buổi chiều mưa tầm tã.
Chiếc xe mướn vội, cũ rích, lắc lư cố gắng trườn
đi trên con đường hư hỏng, nhấp nhô đầy ổ gà sũng nước. Vẫn ngồi trên xe mà đầu
gối tôi bắt đầu run. Tim tôi bắt đầu trật nhịp. Bồi hồi, xúc động, có đủ cả. Trời
mưa làm cho cảnh vật thêm tiêu điều trắng trợt. Kia dăm nương sắn lưa thưa, đây vài luống khoai èo uột bao quanh những nóc nhà tranh
xiêu vẹo. Qua khỏi đoạn đường ngày xưa là đại
lộ kinh hoàng vẫn còn đầy dấu tích của những khung xe móp méo rỉ sét là vào
vùng Hải Lăng đất cát khô cằn. Trên đoạn đường ngoằn ngoèo loang lổ ấy, hiện ra
hình dáng hai em nhỏ đang khiêng một bó củi. Vâng, chỉ đúng có một bó củi thôi ở
giữa hai thân xác nhỏ bé đang di chuyển. Bó củi có lẽ đang tươi, vì hai cái
thân xác ốm o bé tí kia khòm đi, lãnh
chịu sức nặng của bó củi ướt đang đè xuống. Trong màn nước mưa mù mịt, và đôi
mắt đang mờ dần vì đầy lệ, tôi ngoái lại nhìn: áo các em lem luốc rách tả tơi
đang dính sát vào thân mình, quần đùi ngắn ngủn cũ rích phập phờ theo hai đôi
chân nhỏ bé chạy lúp xúp. Tôi rên nhỏ trong lòng, “em ơi, đi kiếm củi cho mẹ
nấu bếp, hay làm củi để bán? Khổ thân em. Em có được đến trường không hở em,
hay chỉ biết đi làm củi làm rẫy nương, khốn khổ kiếm cái ăn?”. Một đoạn nữa, ơ
kià bên lề đường một cái bóng nhỏ lom khom trờ ra đưa tay vẫy vẫy, mặt xanh tái
nở nụ cười méo mó vì hàm răng sún, cánh tay khỏng khoeo chỉ chỉ vào những bó củi
chất bên vệ đường. Những bó củi có che tấm ni lông cũ, nhưng em thì không, ướt
nhẹp, co rúm! Xe chúng tôi vượt qua, nụ cười em tắt ngủm. Tôi hiểu ra: em đang
bán củi. Tôi bần thần. Miệng tôi thêm đắng chát. Một mảnh nilông cũ rách, em không
dùng để che tấm thân ốm o đang run cầm cập vì ướt lạnh. Tấm nilông quý báu ấy đã
cẩn thận được che cho bó củi: tài sản của
em, cơm gạo của em, tiền thuốc cho mẹ cho bà?