Sunday, July 26, 2015

Lối Cũ Vấn Vương



Xuân 1992

             Tôi rời bỏ Quảng Trị trong màn lửa đạn rực trời của mùa hè 1972. Hơn 20 năm sau, 1992, lòng tôi  xót xa vô ngần khi tìm về lối cũ trong một buổi chiều mưa tầm tã.

Chiếc xe mướn vội, cũ rích, lắc lư cố gắng trườn đi trên con đường hư hỏng, nhấp nhô đầy ổ gà sũng nước. Vẫn ngồi trên xe mà đầu gối tôi bắt đầu run. Tim tôi bắt đầu trật nhịp. Bồi hồi, xúc động, có đủ cả. Trời mưa làm cho cảnh vật thêm tiêu điều trắng trợt. Kia dăm nương sắn lưa thưa, đây vài luống khoai èo uột bao quanh những nóc nhà tranh xiêu vẹo. Qua khỏi đoạn đường ngày xưa là đại lộ kinh hoàng vẫn còn đầy dấu tích của những khung xe móp méo rỉ sét là vào vùng Hải Lăng đất cát khô cằn. Trên đoạn đường ngoằn ngoèo loang lổ ấy, hiện ra hình dáng hai em nhỏ đang khiêng một bó củi. Vâng, chỉ đúng có một bó củi thôi ở giữa hai thân xác nhỏ bé đang di chuyển. Bó củi có lẽ đang tươi, vì hai cái thân xác ốm o bé tí kia  khòm đi, lãnh chịu sức nặng của bó củi ướt đang đè xuống. Trong màn nước mưa mù mịt, và đôi mắt đang mờ dần vì đầy lệ, tôi ngoái lại nhìn: áo các em lem luốc rách tả tơi đang dính sát vào thân mình, quần đùi ngắn ngủn cũ rích phập phờ theo hai đôi chân nhỏ bé chạy lúp xúp. Tôi rên nhỏ trong lòng, “em ơi, đi kiếm củi cho mẹ nấu bếp, hay làm củi để bán? Khổ thân em. Em có được đến trường không hở em, hay chỉ biết đi làm củi làm rẫy nương, khốn khổ kiếm cái ăn?”. Một đoạn nữa, ơ kià bên lề đường một cái bóng nhỏ lom khom trờ ra đưa tay vẫy vẫy, mặt xanh tái nở nụ cười méo mó vì hàm răng sún, cánh tay khỏng khoeo chỉ chỉ vào những bó củi chất bên vệ đường. Những bó củi có che tấm ni lông cũ, nhưng em thì không, ướt nhẹp, co rúm! Xe chúng tôi vượt qua, nụ cười em tắt ngủm. Tôi hiểu ra: em đang bán củi. Tôi bần thần. Miệng tôi thêm đắng chát. Một mảnh nilông cũ rách, em không dùng để che tấm thân ốm o đang run cầm cập vì ướt lạnh. Tấm nilông quý báu ấy đã cẩn thận được che cho bó củi:  tài sản của em, cơm gạo của em, tiền thuốc cho mẹ cho bà?

Saturday, March 28, 2015

Thơ ...thẩn



      ...........................Dọn dẹp kệ sách cũ, tìm ra những dòng lẩn thẩn này.


Rụng Về Gốc Xưa

Tôi về thực?
tưởng như mơ:
Con đường sỏi đá nằm trơ hứng sâù,
Lá hờn chẳng đợi lẫn nhau
Buông mình từ giã, hoàng hôn ngỡ ngàng.
Quanh tôi xa lạ xóm làng
Đâu còn dấu vết ngày vàng tuổi thơ.
Gốc me cũ, ngã chổng chơ
Tên ai xưa khắc, chẳng còn nét in.
Làng Thạch mãi cứ lặng thinh
Tôi không là đứa con xa tìm về!
Ôi hoang lạnh, ơi ê chề
Một mình tôi đứng ngẩn ngơ bơ thờ
Sầu đông năm cũ không chờ
Tôi, cánh lá uá rụng về gốc xưa!
Gốc xưa đã nhạt bóng rồi
Đất xưa cũng lạ
Lá tôi
Tàn

1993



  Một Thoáng Nữa Thôi

  Cho tôi một thoáng khẽ khàng
  Chân trần nhón nhẹ đường làng tôi xưa
  Thăm hàng mướp, khóm tre thưa
Uống lời mẹ hát bài ru con buồn
Xin về góc nhỏ xóm thôn
Nhìn chiều vương nắng khói ôm bếp nhà
Cho tôi chút ánh trăng ngà
Đêm huyền hoặc cũ, ươm hơi gió nồng.
Cho xin một thoáng hương đồng
Ngạt hương lúa trổ đòng đòng trinh nguyên.
......
Xin một lần nữa, bên hiên
cùng người thân thiết nửa đời lià xa.
Một lần nữa, khoảnh khắc thôi
Để tôi đi hết đời này, phù du!

1992



Tuesday, March 24, 2015

Thursday, March 12, 2015

Chú Bé Bán Bún Bò




Buổi chiều mùa đông ở Huế mát dịu có lẫn một chút se lạnh, đủ để làm cho lòng người chùng xuống. Khách viễn du bỗng dưng nổi hứng muốn lang thang. Chúng tôi mười hai người, trong đó có 2 người bạn trẻ tại địa phương, mướn sáu chiếc xe gắn máy. Xe dáng chừng rất cũ, trầy trụa lại đầy bụi mà chẳng hề chi, càng "phong trần"! Chụp lên đầu mấy cái nón "nồi" đã bạc màu sơn, chúng tôi tà tà chạy từ Đập Đá, xuyên qua con đường Lê Lợi rũ bóng phựơng xanh qua Bến Ngự, lên Đàn Nam Giao dấu tích lịch sử một thời, quành sang Thiên Mụ linh thiêng, leo điện Hòn Chén u uất huyễn hoặc rồi lại quay ngược qua Thiên An thông xanh vi vu lời hát bất tận… Những lối mòn đầy kỷ niệm của riêng tôi hơn bốn mươi năm trước, một chút gì như sóng bỗng trào lên trong lòng, một thoáng thôi. 

Rong ruổi chán rồi, chúng tôi về con phố nhỏ gần An Cựu xề vào một cái quán bún bò bên lề đường hẹp. Mới đầu hôm, còn sớm nên quán chưa đông, mà quán cũng không thể đông được vì chỉ có 5, 6 cái bàn con cùng mớ ghế đẩu, tất cả bằng nhựa, tất cả màu đỏ, tất cả thấp tè. Quán có một người phụ nữ đang chăm chú nồi nước lèo to lớn , một người đàn ông đứng nhìn quanh trông nom và một chú bé khoảng độ mươi mười hai tuổi tiếp khách. Khi đám chúng tôi kéo vào, chú bé chạy ra tươi tắn mời chào. Hỏi có đủ bàn để ngồi chung không, chú dạ dạ rồi nhanh nhẹn kéo mấy cái bàn ghép lại. Vỉa hè nhỏ, lại còn chục chiếc xe Honda chiếm ngự làm chú phải chật vật khiêng bỗng chiếc bàn lên khỏi đầu, ẹo người dịch qua nghiêng lại để kê cho được 4 cái bàn bé tí ti sát vào nhau. Chú lau bàn, xếp ghế, lễ phép mời chúng tôi ngồi rồi giới thiệu các loại bún cho chúng tôi chọn: bún bò có giò, không giò, có thịt tái, có gân, hay có chả tôm, cay nhiều, ít, không cay ….
 
  

Friday, March 6, 2015

Củ Khoai Mùa Đông Năm Ấy

Tùy bút
 



Trong một ngày, có lẽ thời gian thoải mái nhất của tôi là lúc lái xe đi làm. Ngày còn rất non, màn đêm chưa vén nên nền trời còn đen kịt. Tôi cứ đi theo luồng xe, những đốm đỏ kéo thành vệt dài không dứt lập lòe trước mặt, chậm,  nhanh cũng mặc.... Và thế, tôi thả tâm trí vẩn vơ  về những ngày tháng cũ. Như sáng nay thôi, trong màn trời đen của một ngày đông lạnh tôi bỗng dưng nhớ đến  củ khoai ấm tình của một mùa Đông xưa.

 Một củ khoai! Bạn chớ vội cười. Hãy cùng tôi sống lại khung cảnh ấy. Cho dù bụi thời gian đã phủ dày nhưng kỷ niệm vẫn còn đó y nguyên.

Mùa đông 1978, tôi được lệnh đổi đi vùng kinh tế mới vừa thành lập ở ven rừng cách thị trấn độ 10km. Thông thừơng việc thuyên chuyển giáo chức xảy ra vào dịp hè, trước ngày khai trường. Có lẽ tôi là trường hợp đặc biệt: bị đổi khi chưa thi học kỳ I. Tôi vác ba lô đi bộ theo đường đất đỏ khúc khuỷu gập ghềnh vào nhiệm sở mới. Dân chúng là gia đình của các vị đang đi "cải tạo", gồm những bà mẹ trẻ với đàn con thơ cùng các cụ già ốm yếu, có lẽ họ đã chưa từng phải làm lụng chân tay khổ nhọc nay "được" lên khu rừng  mới khai phá để sống trong những căn nhà hay những cái lều tạm bợ bám vào cánh rừng khô. Tôi ở trong một góc nhỏ ngăn từ cái lán để củi và dụng cụ làm vườn, nghe đâu là của thanh niên xung phong dựng lên để tạm trú  trong những ngày họ lên giúp khai phá rừng: vách bằng lá chỉ cao ngang tầm mắt, và mái tranh thưa rếch thưa rang đến nỗi có thể ở trong lán mà ngắm trăng đếm sao được. Nó không che được gió mưa và sương đêm nơi chốn rừng sâu chướng khí. Tối đến tôi phải trùm tấm nilon lên ngoài mền, nếu không thì sẽ bị ướt đẫm vì sương đêm nặng hạt. Nhưng có lẽ cái đáng sợ hơn hết là việc bị  đồng nghiệp xa lánh: Tội đã bị mặc cho một cái áo khác, áo mang màu của "tàn dư chế độ cũ", cái áo mọi người phải e dè tránh né.

Từ trong góc rừng xa vắng ấy, hơn lúc nào hết tôi ham muốn được đi nhà thờ. Có lẽ tôi cần chốn tựa nương. Có lẽ tôi muốn một mình lặng lẽ đi trong đêm tối để nghe bước chân mình, để được thả đầu óc tự do bay về đậu lại dù chỉ vài khoảnh khắc trên bờ tường mang tên tháng ngày cũ. Dạo ấy tất cả các thánh lễ ngày thường và chủ nhật phải được cử hành từ lúc sớm tinh mơ, không  cản trở giờ lao động. Để có thể tham dự thánh lễ, tôi khởi hành từ lúc 3 giờ sáng, gà còn chưa gáy sớm. Theo ánh sáng  lờ nhờ của ánh trăng bị che phủ bởi sương đêm dày đặc nơi vùng núi rừng cao nguyên, tôi đi qua khá nhiều đồi cây cỏ  lúp xúp, có đoạn xuyên qua những đồi trà đang bị bỏ ngơ xơ xác tiều tụy. Mới vài năm trước thôi những đồi trà này  rất trù phú, đã là nơi dừng chân của tôi và đám bạn trong những buổi rong chơi cuối tuần. Chủ nhân của chúng giờ lưu lạc phương nao, tôi tự hỏi. Lầm lũi bước đi trong cảnh trời đất mênh mông đen như mực, cùng với gió lạnh sương buốt, tôi thật sự rùng mình cảm nhận sự cô đơn chơ vơ tận cùng và nỗi lo sợ kinh hoàng về một ngày mai không định huớng.

Và đó là thời điểm tôi nhận được củ khoai.

Tối hôm ấy vừa xong buổi "sinh hoạt tập thể", thân xác rã rời bước về lán, mũi tôi hếch lên vì cái mùi thơm của khoai lang nóng. Lạ. Nheo mắt nhìn quanh cái lán tối mù, tôi thấy một củ khoai nằm chễm chệ trên bàn (bàn chỉ là một tấm ván cong queo treo lên vách  lá). Củ khoai bé chỉ bằng nửa  nắm tay lại còn méo mó.  Loại này ngày trước chẳng ai thèm lượm, thuờng bỏ lăn lóc lại ngoài nương để làm phân bón cho mùa tới. Bây giờ nó là nỗi ao ước của những người dãi dầu ngoài kia, là món quà quá quý báu với tôi. Dù trong cái lán trống trơn gió lùa bốn phía, nó vẫn thơm nức thơm lừng. Củ khoai còn rất ấm,  chừng như ai đó vừa lén bỏ vào. Tôi ôm  nó vào lòng hai bàn tay, đưa lên mũi, ấp lên má mà nước mắt rưng rưng: học trò cũng biết cô giáo thiếu ăn. Mà cơ khổ, chắc em cũng đang đói meo!  Rồi không phải chỉ nước mắt mà nước miếng tôi cũng ứa ra: thèm quá! Còn nhớ như in: Tôi đã bứt từng cọng rễ, xé từng mảnh vỏ mỏng như lụa bỏ vào miệng nhỏ nhẻ nhai, rồi mới trịnh trọng nhè nhẹ đặt răng vào củ khoai cắn từng miếng thật bé, ngậm mà nghe nó tan trong miệng, không dám nuốt cái huơng vị ngọt ngào ấy. Chao ơi không có củ khoai nào thơm ngon như thế. Không biết em nào trong đám thiếu niên còm cõi ốm o kia đã can đảm nhường củ khoai quý báu ấy cho cô giáo để tôi nói lời cảm ơn. Củ khoai đã làm cho lòng tôi ấm lại. Nó không còn là một củ khoai ốm o méo xẹo mà tròn trịa no đầy tình yêu thuơng sẻ chia, nó thơm ngát tình người nơi thâm sơn cùng cốc. Củ khoai như là một tín hiệu của sự bảo bọc bao che? Tôi không đoan chắc nhưng từ đó sự cô đơn trong tôi bớt ray rứt kinh hoàng.
                         
 0o0o0o0
Bây giờ mỗi lần đi cắm trại, bên ngọn lửa hồng nhảy nhót, trong lúc các bạn quây quần với rổ khoai nướng thơm lừng nói chuyện và đàn hát rôm rả, tôi nhón lấy môt củ, lui về phía sau tựa lưng vào gốc cây, ôm củ khoai thơm ngát nóng hổi vào lòng hai bàn tay, nhắm mắt nhớ về củ khoai đầy tình nghĩa năm nào. Qua ánh lửa bập bùng và rèm mi nhòe ướt, củ khoai trong tay bỗng bám đầy những hạt kim cương lóng lánh, như kỷ niệm xưa còn sáng mãi và bài học quý vô ngần về sự đùm bọc sẻ chia  sẽ không bao giờ lụn tắt trong lòng tôi.
             

Saturday, August 9, 2014

Hương Sầu Đông

Truyện ngắn

     Thomas Nguyễn đến làm việc chung nhóm  hơn chừng một tháng rồi, mà tôi vẫn chưa có dịp nói chuyện riêng với cậu. Tôi có cái thói xấu là ít bắt chuyện với  'ma mới ', nhất là lại ma mới người Việt. Cứ sợ người ta nghĩ là mình đang dở trò ma cũ hù ma mới. Với lại, lúc này công việc cũng bề bộn quá. Thời buổi kinh tế khó khăn, các hãng xưởng đua nhau downsizing, sa thải nhân viên hàng loạt. Kẻ thiếu may mắn thì khăn gói ra đi, người thoát sổ đoạn trường lại cũng chẳng may mắn hơn chi mấy, vì phải làm việc gấp đôi gấp rưỡi. Tôi cũng không thoát khỏi cảnh đó, lu bu loay hoay tối ngày.  Cho đến một hôm, tôi đang ngồi ở cafeteria uống vội ly cà phê sáng  thì Thomas xề vào ngồi chung bàn và mở đầu câu chuyện :

  - Nghe các anh chị ở đây nói là chị khó tính lắm, ít nói chuyện lông bông, em nghe mà sợ quá.

  - Sợ? Thế sao còn đến bắt chuyện?

 - Biết rồi mà, tóc gáy  em cũng dựng đứng lên nè, nhưng em cũng rán liều, vì em nghe nói chị An người Quảng trị?

 - Ừ, khỏi hỏi, nhìn tui nè: nước da xám xịt, người gầy tong teo, đủ tiêu chuẩn của người xuất thân từ chốn chó ăn đá, gà ăn muối...

 - ... đồng khô, cày trên sỏi đá...

  - Cậu cũng thuộc bài dữ!

 - Nhưng chị An thiếu giọng nói trọ trẹ...

 Tôi thành thật:
 
 - Ừa, tại đi khỏi quê đã khá lâu rồi...

 - Chị An này, có nhiều khi em tự hỏi, mà chị đừng cười em nha, tại sao người ta cứ nói giọng Huế, giọng Quảng trị là trọ trẹ khó nghe? Mà, không phải là người ta chỉ nói chọc chơi đâu, em có đọc thấy người ta viết trong văn trong truyện đàng hoàng nữa. Gì mà giọng nói trọ trẹ? Trong lúc “giọng Bắc trầm bỗng”, “giọng Nam ngọt ngào”....Thử hỏi chứ ngày xưa nếu tiếp sau các vua nhà Nguyễn đặt kinh thành ở Huế, thời Đệ Nhất Cộng Hoà cứ chọn Huế làm thủ đô, đài phát thanh trung ương cứ thế mà nhả giọng Huế đi khắp mọi vùng đất nước, thì giọng Huế sẽ phổ thông hơn, có khi thành tiếng chuẩn biết đâu chừng...

    Cậu này cũng rắn mắt. Tôi nghĩ.  Cậu có vẻ muốn gân cổ lên rồi đây. Tôi dò đường :

- Ái chà, nghe không hiểu nên người ta nói vậy mà. Sao cậu thắc mắc dữ. Giọng cậu cũng lơ lớ thập cẩm, đâu có rơi vào giọng miền Trung kỳ...cục đâu mà lo.

- Chị nói vậy mà nghe được, giọng cuả quê chị, mà chị không binh sao?

- Binh thì làm sao? Ra đường Bolsa vác theo cái bảng: giọng Huế êm như giòng Hương Giang, hở?  A, câu này hay hơn:  giọng Huế đậm đà như tô bún bò giò heo...

 -  Chị An này giỡn quá, vậy mà thiên hạ nói chị ... khó chơi!

  Tôi lườm chú nhỏ một cái thật dài rồi đứng dậy trở vào làm việc, cũng chẳng hẹn với chú làm gì, vì thấy chẳng có gì đặc biệt .

   Thế nhưng, những giờ còn lại ngày hôm đó tôi nghĩ  nhiều về làng Thạch Hãn, nơi đã ủ ấp tôi từ khi còn là một đứa bé sơ sanh cho đến khi trở thành thiếu nữ. Tôi nghĩ về các ngôi trường tôi đã đến, để vui đùa, để học tập rèn mài. Từ ngôi trường Nữ Tiểu học đơn sơ bên bờ sông Thạch Hãn, rồi Trường Têrêxa Phước Môn gần nhà thờ có các soeurs nghiêm khắc, đến trường Nguyễn Hoàng rợp bóng dương liễu gần bến xe. Bao nhiêu cái ghế nhà trường tôi đã mài nhẵn bóng. Bao nhiêu kiến thức và đạo lý tôi đã thu thập được để trở nên người hôm nay. Tôi có hữu ích cho quê nghèo của tôi tí nào không? Cái hoài bão ngày xưa ôm ấp, giờ tôi đã thực hiện được chút nào chưa? Tôi bần thần suy nghĩ. Rồi tôi lại thấy trong đầu tôi hàng ngàn hàng vạn kỷ niệm cũ kéo về, như lũ như lụt, như gió như bão và tôi không còn chối cãi chạy trốn như tôi vẫn thường làm được nữa. Tôi đầu hàng và ngồi thừ người ra cho ký ức hoành hành. Mắt tôi vẫn mở nhìn trừng trừng mớ giấy tờ trước mặt. Nhưng tôi chỉ thấy Quảng trị. Tôi chỉ thấy Thạch Hãn và một tôi-ngày-còn-bé ...

Tôi thấy tôi còn 14,15 tuổi, thỉnh thoảng nói dối là các soeurs cho nghỉ học sớm, trốn học đi đò qua Ái Tử, Nhan Biều chơi . Ở đó có chuà Sư Nữ lúc nào cũng rợp bóng mát của những hàng tre dày xanh mướt. Ngồi dưới những rặng tre này, nghe gió vi vu xào xạc, nhìn tre lẳng lơ thả làn tóc mượt mà theo gió, yểu điệu soi mình dưới giòng Thạch Hãn trong veo, tôi đã ước là tôi có thể làm thơ ... tả rặng tre. Sau này, tôi lên cao nguyên, cũng gặp nhiều rặng tre đẹp, rồi tại Mỹ, cũng có những rặng tre dày và xanh ngắt ở các công viên, nhưng không có rặng tre nào “ăn” được rặng tre chùa Sư Nữ trong  tôi.

Tôi thấy mình cùng đám bạn con gái đạp xe đi chơi khắp nơi, nào La Vang đất đỏ khô rốc, nào Bích La xanh mát, nào Trí Bưu bát ngát lúa rì rào. Tôi thấy ngôi nhà nhỏ của tôi có hàng sầu đông bao bốn phía.Tôi nhớ những tối mùa xuân ra sân hít đầy ngực hương hoa sầu đông thơm sực nức. Tôi nhớ những ngày hè trèo lên cây hái trái sầu đông hình dáng như những quả trứng nhỏ, để chơi đồ hàng buôn bán với con bé bạn thân hàng xóm.

Nhưng, tôi cũng thấy tôi phải cùng cha mẹ làm hầm tránh đạn pháo kích. Đêm, tôi không còn ngủ với tiếng dế kêu rả rích tiếng gió ru cây rì rào nữa. Đêm bấy giờ, hoả châu sáng rực mảnh trời con, tiếng súng ầm ì, tiếng máy bay gầm rú ồn ào. Rồi có những đêm tiếng súng gần hơn, và sáng mai trở dậy thấy những hàng chuối hàng dừa cụt mất ngọn. Có những sáng đến trường thấy chỗ ngồi của một đứa bạn nào đó để trống, và trống mãi. Rồi mùa xuân, hoa sầu đông hé nở, tôi ra sân hít hà làn hương tôi hằng yêu thích, tiếc thay tôi đã không thể hít mùi hương sầu đông thơm nồng tinh khiết vào đầy  lồng ngực thiếu nữ , mà chỉ là mùi thuốc phát quang, mùi Agent Orange độc địa. Mùa xuân năm đó, hoa chưa kịp nở, cây đã úa vàng, chết héo, như tuổi xuân của thế hệ chúng tôi. Tôi thấy, mùa hè gió Lào thổi về nóng rát mặt, tang tóc phủ trùm tỉnh lỵ bé nhỏ. Đó là muà hè đỏ lửa. Tôi xa quê từ mùa hè ấy.

Rồi tôi cũng thấy tôi những lần trở về. Trở về nhìn lại cái mảnh quê hương nhỏ bé điêu tàn tan nát. Năm 73, cùng với các sinh viên ở Huế trở về thăm Thạch Hãn. Lần từng bước  trên đống gạch vụn khổng lồ và dài như không dứt, lòng tôi quay thắt quặn đau. Cái đau tinh thần đã biến nhập thành cơn đau thể chất trong tích tắc mà một giây trước đó tôi đã không thể hình dung được. Tôi đã hiểu được thế nào là cái đau đứt ruột. Trưa mùa hè nóng gay gắt, mà tôi run, tay chân tê cứng. Tôi bước đi trên những đám gạch vụn chẳng còn một viên nào nguyên vẹn. Đứng trên một nền gạch cũ nát tan, chung quanh, những cành sầu đông mới đâm chồi từ gốc cũ đã bị bom đạn chém gãy, tôi bỗng bàng hoàng nhận ra rằng tôi đang đứng trên chính căn phòng của tôi ngày trước. Này đây, gốc sầu đông ngày xưa tôi vẫn trèo hái trái cho anh tôi làm đạn bắn chim. Này đây,  hàng sầu đông đã cho tôi những muà hoa thơm ngát...Người tôi bỗng đổ gập xuống, sóng soài....

         Ký ức tôi đã dẫn tôi về thăm một Quảng trị êm đềm rồi lại tống tôi sang những ngày đen tối nhất rồi đây. Tôi đứng dậy đi lang thang ra ngoài hành lang. Tôi muốn trốn chạy những cơn đau đang trỗi dậy trong lòng. Những cơn ác mộng mà tôi cố tránh, cố quên, cố nhận chìm một cách tuyệt vọng đang trở về trước mặt tôi một cách sừng sững ngạo nghễ. Tôi buông xuôi đầu hàng. Thẫn thờ, tôi như một cái xác vô hồn giữa những sinh hoạt ồn ào tíu tít của một chỗ làm đông người xa lạ .

     Giờ ăn trưa hôm sau, và những hôm sau nữa, Thomas, hay Thái, lò dò dẫn xác đến bàn tôi. Có cậu ta nói chuyện tầm phào, buổi ăn trưa cũng đỡ buồn tẻ. Một hôm, câu chuyện dẫn tôi đến một ngõ ngách khác của ký ức đã từ lâu bị đóng kín:

- Chà, giờ này mà có tô bún bò thì hết sẩy chị hỉ ?

- Thôi chú ơi, ăn thịt  nát kẹp bánh mì thiu cho quen đi, ở đó mà vớ vẩn hoài..

 - Ăn và mơ là hai chuyện khác nhau chứ chị, như em nè, chưa bao giờ được đặt chân đến Quảng Trị mà em vẫn nghĩ rằng giòng Thạch Hãn chắc phải êm đềm lắm và hoa sầu đông phải thơm nồng nàn và xinh hơn mọi thứ hoa trên đời.

 Tôi giật mình sừng sộ:
 
 - Chú nhỏ có liên hệ mắc mớ chi với quê tui mà lôi quê tui ra chọc ghẹo hoài hử. Bộ muốn chê quê tui là nghèo nàn quê mùa à ? Coi chừng nghe!

  - Ý, chị đừng nói vậy, em quê quán Quảng Trị mà, chị muốn em đem trình chị khai sinh của em không? Em sinh ở Đông Hà đó chị.

   - Chú ở Đông Hà thì phải biết nhiều về Quảng Trị chứ, sao lại hỏi vớ hỏi vẩn sông Thạch Hãn với hoa sầu đông...

     Giọng Thái bỗng hạ xuống thật thấp, tôi nghe như tiếng thở dài. Không, như tiếng dội  từ một nơi nào đó, mơ hồ, xa lắm:

  - Không chị ạ. Em chỉ biết về quê mình qua lời me em kể thôi. Mà me thì kể về Quảng Trị như về một chốn thiên đàng đẹp vô tưởng - tiếng Thái  đứt đoạn - Nhưng me không nói nhiều về quê đâu. Thường thì me chỉ nói vắn tắt vài câu, rồi mơ màng suy nghĩ, có khi me lại khóc nữa.

  - Chắc mẹ chú nhớ quê ?

  - Dạ chắc vậy. Mà cũng có thể vì me nhớ ba.

  - Ba chú không cùng vào trong Nam năm 72 sao. Muà hè đỏ lửa đó, ba chú không chạy hở ??

  - Dạ dạ... ba em mất trận hạ Lào. 

Thái cúi đầu giọng thật thấp như thì thầm, nhưng tôi nghe như nghe bằng con tim. Trận hạ Lào. Tôi cũng có người em họ rất thân đã hi sinh. Tôi  nhìn sâu vào đôi mắt nâu nhạt của chú nhỏ, lúc đó đang cúi xuống trốn ánh mắt dò hỏi của tôi:

  - Thái có nghe me nói ngày xưa me ở xóm nào không?
 
  - Dạ, me nói me ở gần trường Têrêxa đó chị.

    Tôi gấp gáp:
 
 - Đừng giận tôi nghe, ba me em tên gì vậy ? Có thể tôi quen à.

  - Dạ ba là Thông, me là Dạ Lê.

  -Trời ơi, Thông, Dạ Lê....

Như có một luồng điện cao độ chạy suốt qua thân thể, tứ chi tôi lạnh ngắt, mặt tôi chắc xanh tái lắm, vì  Thái hoảng hốt  kêu:

   - Chị An, chị sao vậy? Chị sao vậy, chị An!

 Giây lâu, tôi cố trấn tĩnh và bảo Thái :

    - Chiều tan sở, nếu không có gì phiền, Thái đến nhà nhé. Nhà cô có cây sầu đông bé.



     Lúc đó là buổi chiều cuối hạ của những ngày tháng thanh bình, tôi  và Dạ Lê - cô bạn hàng xóm có mái tóc mây  dài che kín lưng - đứa nằm đứa ngồi vắt vẻo trên cây sầu đông ngoài ngõ. Chúng tôi nắm một nắm tay đầy trái sầu đông xanh để ném chọc ghẹo người qua đường. 

Dạ Lê đang đọc Tuổi Hoa thì tôi gọi nhỏ :

   - Ê, mi, có một anh chàng đang đi qua đó.

    - Mi dị òm, ai mà chọi đạn con trai ...

    - Mi mắc cở hả Dạ Lê ? Để tau chọi cho coi...

   Thế là tôi cứ vậy mà pháo kích vào... đầu địch thủ. Một trái trật, rồi hai trái rơi, trái thứ ba tôi nheo mắt ném thật mạnh trúng ngay trên cái mái tóc bồng bềnh màu nâu nhạt. Địch thủ nhìn quanh tìm kiếm. Khi  ngửng lên thấy hai đứa con gái ngồi vắt vẻo trên cây đang nhe răng cười khúc khích cầu hòa, chàng ta mở tròn mắt nhìn sững rồi  lăm lăm đi vào nhà tôi. Tôi hoảng hồn hoảng vía sợ sệt, nhưng cũng lầm bầm: đồ con trai gì mà hèn, bày đặt vô méc mẹ người ta nữa chứ...

 Mà thiệt, chút xíu sau mẹ tôi đi ra sân và gọi tôi:
     - An à, em Thông con cô Út đến chơi con à, vô đây làm quen với em đi.

  Tôi bật cười leo xuống, kéo theo con nhỏ Dạ Lê đang run vì sợ đòn. 

    Bấy lâu nay cô Út tôi ở Huế, và Thông thì ở nội trú nên tôi chưa hề biết mặt. Sau buổi 'đạn rơi' đó, chúng tôi thành bạn và chơi khá thân với nhau. Thông  học hơn chúng tôi hai lớp và tính tình hiền hòa dễ thương,  rất khéo tay,  lại  hay  giúp chúng tôi làm bài vở. Ba mẹ Dạ Lê có cửa hàng buôn bán, thường về nhà trễ nên chúng tôi dùng nhà của Dạ Lê để học bài cho yên tĩnh. Chúng tôi chơi thân tay ba như thế, bỗng một hôm tôi chợt nhận ra hình như Dạ Lê ít hiểu bài hơn, và Thông phải ở lại lâu hơn bình thường. Tôi lúc đó đã 16, nên tôi  hiểu Thông và Dạ Lê không muốn sự có mặt tò tò vô duyên của mình bên cạnh nữa. Tôi kiếm cớ vắng mặt. Tôi thấy Dạ Lê cắt tóc ngắn, bảo rằng hè rồi,  để tóc dài nóng quá, tôi ngẩn ngơ tiếc mái tóc mây óng ả mượt mà. Tôi rút dần và xa dần con bạn hàng xóm dịu dàng và cậu em họ dễ mến. Tuy mất bạn  để tâm sự và cậu em họ để nhờ vã,  tôi cũng cầu mong họ hạnh phúc. Hai người đều thật hiền, nhu mì dịu dàng. Họ thật xứng đôi. Tôi nghĩ thế.

           Nhưng, sự đời đã không êm đềm như tôi tưởng. Một năm sau, bom nổ trong cái gia đình khuôn phép gò bó của chúng tôi, khi cô Út tôi sang khóc với cha tôi rằng Thông và Dạ Lê sắp cho cô một cháu nội ngoài vòng lễ giáo.   Ai có thể ngờ đâu, cái xã hội Quảng trị nhỏ bé rất khuôn khổ khắt khe đó đã sinh mà không dung dưỡng mối tình của bạn tôi. Dạ Lê được gửi  ra Đông Hà. Thông quay quắt buồn và bỏ nhà đi lính. Cô tôi mất. Dượng tôi đem con đi nơi khác. Tôi chúi đầu vào sách vở chuẩn bị cho kỳ thi Tú Tài một. Làng xóm quên dần chuyện tình Thông &Dạ Lê. Thỉnh thoảng về phép, Thông vẫn ghé thăm Ba mẹ tôi  và lấy xe Honda phóng đi biệt tăm vài tiếng.

     Một buổi chiều thật nóng mùa hè, gió Lào thổi từng hơi thở oi nồng đặc quánh về thị trấn, Thông ghé lại quyến luyến từ giã cha mẹ tôi, bảo rằng sẽ ra trận Hạ Lào, và dặn tôi ở nhà nhớ đọc kinh cầu nguyện cho Thông được bình an. Ra đến gốc sầu đông già trước ngõ, Thông quay lại bảo tôi :

     - Chị  An  nhớ không, chị và Dạ Lê chọc phá em từ trên cây sầu đông này đây. Ui chao, lúc em ngửng đầu lên tìm thủ phạm, thấy Lê xoã tóc trốn nửa mặt, những cánh hoa tim tím nho nhỏ vương đầy mái tóc dài... làm em ngơ ngẩn. Thiệt không có bức tranh nào đẹp hơn.

   Tôi ôm cánh tay Thông :

    - À, rứa thì phải cảm ơn cây sầu đông làm mai làm mối đó. Thôi sẵn hoa đang nở, đem theo một ít để nhớ người...

    Tôi chọc thế mà Thông làm thiệt. Anh chàng vơ một nắm lớn nhét vào ba lô, rồi cười cười :

    - Để lỡ em có chết cũng chết thơm. Thơm mùi hương sầu đông đầy kỷ niệm, chị hỉ.

   Hai tuần sau đó, Thông tử trận.  Dưới đáy ba lô của Thông, là những kỷ vật của họ, đôi tình nhân một thời làm xôn xao thị trấn nhỏ: mái tóc mây của Dạ Lê được cẩn thận đặt trong hộp thiếc với lời thề sắt son của nàng; một hộp đầy những bức thư tình hai người viết cho nhau, mấy cuốn nhật ký  và cuối cùng là một hộp nữ trang thật bé đựng cặp nhẫn cưới còn mới tinh.  Đôi nhẫn cưới còn y nguyên, không tì vết, như mối tình đơn sơ mà thủy chung  của họ.  An táng Thông, tôi gởi theo một bó sầu đông to tướng. Những lần thăm mộ, tôi mang hoa sầu đông rải đầy chung quanh. Những lúc ngồi bên mộ người em họ thân thiết, tôi nhớ Dạ Lê và tuổi nhỏ quay quắt. Nhớ, nhưng tôi không tìm đâu ra được nàng vì mùa hè đỏ lửa đến, nhà cửa tan nát, xóm làng thiêu  rụi và người thân mất nhau. Dân Quảng trị tủa ra tứ phiá ngơ ngác như đàn gà con chưa ra ràng đã mất mẹ: toán tạm cư Đà nẵng, toán di dân vào Cam Ranh, toán khai hoang Bình thuận, toán chắp vá cuộc đời ở Phan Rang. Tôi ôm sách ở lại Huế.

o O o

    Chiều cuối đông California hơi lạnh. Vài vệt nắng còn vương vải trên ngọn dừa kiểng, nắng quá yếu ớt thoi thóp không còn hơi ấm dể đủ sức đánh tan cái giá buốt đang ngập ngừng về. Gió thì thào mơn man khóm trúc. Trong cái chòi gỗ lợp tranh nơi góc vườn sau nhà, có gốc sầu đông nhỏ mới trồng, có gốc ti-gôn lưa thưa lá, tôi kể chuyện ngày xưa cho Thái nghe. Chuyện của một phần tư thế kỷ trước mà âm vang rõ mồn một trong lòng người nghe, mà tươi rói sũng ướt lời người kể. Cậu bé xúc động ngồi yên uống cà phê. Những ngón tay dài thon hơi run. Mái tóc mềm nhẹ cúi xuống tách nước óng ánh  ráng chiều.
 
  Tôi nghiêng đầu ngẫm nghĩ, rồi  bảo rằng lần đầu tiên khi nhìn vào đôi mắt có màu nâu quá nhạt của Thái, tôi đã thấy có gì giao động trong lòng. Đó là màu mắt của cậu em họ rất thân của tôi. Màu nâu quá nhạt, lại trong, y như có thể nhìn thấu suốt vào đáy mắt.  Thái nói nó cũng có cảm giác y hệt như tôi vậy, khi vừa nhìn thấy tôi trong cafeteria đầy người xa lạ.

  Hy  vọng mùa xuân này sầu đông sẽ có hoa, cho tôi lại được hít hà mùi hương xưa, và cho cháu tôi, Thái, biến được mùi hương huyền diệu của lời mẹ kể thành một mùi hương có thực.
                                                                                                                              Thạch An
Mùa hoa sầu đông 1996.
  
         
       

 



Maldives 2026